Soạn văn 7 – Bài 4: Giai điệu đất nước

Đất nước Việt Nam với non sông hữu tình, con người bình dị chân chất trọn vẹn nghĩa tình. Đất nước ta với hàng nghìn năm lịch sử hào hùng, lẫy lừng chiến công oanh liệt, là niềm tự hào của mỗi chúng ta. Dù xa bốn biển năm châu, khi lắng nghe giai điệu đất nước mình, lòng bao giờ cũng xốn xang, tình yêu ấy vẫn luôn âm thầm bén lửa trong trái tim mỗi con người Việt Nam. Giai điệu đất nước – sự kết hợp giữa cảm xúc nồng nàn và suy tư sâu lắng về đất nước, con người Việt Nam là chủ đề bài bốn trong chương trình Ngữ văn 7 bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống. Cùng HVCTP cảm nhận những cung bậc khác nhau của tình cảm thiêng liêng đó qua những bài thơ trữ tình hiện đại và một văn bản khác có cùng chủ đề. Trước hết chúng mình cùng khám phá tri thức Ngữ văn và phần tri thức tiếng Việt trong chủ đề này.

giai điệu đất nước

I. Tri thức Ngữ văn

1. Tình cảm, cảm xúc trong thơ

– Tình cảm, cảm xúc được xem là yếu tố gốc rễ, là cội nguồn để làm nên sức hấp dẫn đặc biệt của thơ trữ tình, phân biệt thơ trữ tình với các thể loại văn học khác. Để có được những bài thơ hay, đi vào lòng người đọc, người làm thơ phải luôn giữ cho mình sự nhạy cảm, thiết tha với con người, cuộc sống, phải Sống toàn tim, toàn trí, toàn hồn/ Sống toàn thân và thức nhọn giác quan (Xuân Diệu), phải xúc động hồn thơ cho ngọn bút có thần (Ngô Thì Nhậm).

Tình cảm, cảm xúc làm nên nội dung chính, nội dung chủ yếu của thơ trữ tình. Tất cả những cảnh sắc, con người, sự kiện,… ngoài đời sống khi đi vào thơ đều trải qua những rung động tâm hồn, những cảm xúc mãnh liệt của người nghệ sĩ. Chính vì thế, đến với thơ, ta không chỉ dừng lại ở bức tranh đời sống được vẽ nên trong tác phẩm mà còn phải đặc biệt chú ý đến những niềm vui, nỗi buồn, những mong muốn, khát vọng của nhà thơ. Tình cảm, cảm xúc trong thơ có thể được bộc lộ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các hình ảnh, biểu tượng,…

Tình cảm, cảm xúc trong thơ vừa mang tính cá biệt vừa mang tính phổ quát. Nó là tình cảm, cảm xúc của một nhân vật trữ tình xác định, được khởi phát từ một tình huống xác định, nhưng luôn có xu hướng biến thành tình cảm, cảm xúc chung của mọi người trong mọi thời. Nhà thơ sáng tác trước hết là để bộc lộ cảm xúc riêng tư, nỗi lòng sâu kín của mình nhưng để bài thơ đi vào lòng người đọc, được bạn đọc đón nhận thì nhà thơ phải từ khát vọng của bản thân để nói lên khát vọng của số đông. Người đọc đến với thơ sẽ tìm được sự đồng điệu, chia sẻ, sẽ có cảm giác nhà thơ đang nói hộ nỗi lòng, cảm xúc của bản thân mình, người đọc có thể ngay lập tức “chiếm hữu” nội dung trữ tình trong đó và xem nó là của chính mình.

– Nói đến tình cảm, cảm xúc trong thơ là nói đến cái tôi trữ tình. Đây là thuật ngữ được dùng để chỉ yếu tố tổ chức cơ bản của thơ, xác định sự thống nhất của toàn bộ những sắc thái, cung bậc tình cảm, cảm xúc mang đậm tính chủ quan được thể hiện trong thơ. Từ sự cộng hưởng tình cảm giữa cái tôi trữ tình và người đọc, thơ ca đã góp phần nuôi dưỡng tâm hồn người đọc, giúp cho tâm hồn của mỗi chúng ta trở nên tinh tế hơn, nhạy cảm hơn, dễ dàng rung động với những biến chuyển của thiên nhiên cũng như của số phận con người.

2. Hình ảnh trong thơ

Hình ảnh là một yếu tố quan trọng trong thơ trữ tình, là phương tiện để nhà thơ bộc lộ tình cảm, cảm xúc của mình. Chính hệ thống hình ảnh sẽ có tác dụng cụ thể hóa, hữu hình hóa tình cảm, cảm xúc đó để giúp người đọc dễ hình dung. Một nỗi nhớ, niềm vui, niềm hạnh phúc vô bờ, sự hờn giận,… những cung bậc cảm xúc đó vốn vô hình, trừu tượng nhưng sẽ trở nên hữu hình, sống động khi được nhà thơ biểu đạt thông qua các hình ảnh giàu sức gợi.

Hình ảnh thơ không chỉ có vai trò giúp nhà thơ bộc lộ tình cảm, cảm xúc mà còn là phương tiện để thi sĩ thể hiện những tư tưởng, quan niệm về đời sống. Chính những hình ảnh giàu sức gợi hình, gợi cảm sẽ góp phần làm cho tư tưởng, quan niệm trong thơ không bị khô khan, xơ cứng mà mềm mại, tự nhiên, dễ đi vào lòng người hơn.

Hình ảnh trong thơ có thể bắt nguồn từ hiện thực đời sống nhưng cũng có thể hoàn toàn do nhà thơ tưởng tượng nên. Chẳng hạn, đó là hình ảnh lá diêu bông trong thơ Hoàng Cầm, hình ảnh màu thời gian trong thư Đoàn Phú Tứ,… Nhưng dù bắt nguồn từ hiện thực hay là sản phẩm của trí tưởng tượng thì hình ảnh trong thơ cũng luôn mang dấu ấn của sự hư cấu, in đậm cảm xúc chủ quan của nhà thơ.

3. Nhịp thơ

Nhịp là phương tiện quan trọng để cấu tạo hình thức nghệ thuật đặc thù của VB văn học nói chung và VB thơ nói riêng. Có thể khẳng định, nhịp điệu chính là một trong những yếu tố quan trọng làm nên đặc trưng của thơ trữ tình. Mai-a-cốp-xki (Mayakovsky) cho rằng: “Nhịp điệu là sức mạnh chủ yếu, là năng lượng của câu thơ“.

Người đọc có thể nhận biết nhịp thơ qua hệ thống những điểm ngắt, ngừng được phân bố trên dòng thơ: Chân phải/ bước tới cha – Chân trái/ bước tới mẹ – Một bước/ chạm tiếng nói – Hai bước/ tới tiếng cười (Ỵ Phương, Nói với con) hoặc: Trời sinh ra/ trước nhất – Chỉ toàn là/ trẻ con – Trên trái đất/ trụi trần – Không/ dáng cày ngọn cỏ (Xuân Quỳnh, Chuyện cổ tích về loài người).

Nhịp thơ được hình thành theo sự chi phối của nội dung cảm xúc và quy định riêng của từng thể thơ. Đọc bài thơ Con chào mào của Mai Văn Phấn, ta nhận thấy, các câu thơ dài ngắn kết hợp với nhau, nhịp thơ lúc nhanh, lúc chậm theo mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình.

Mỗi thể thơ thường có sự quy định riêng về cách ngắt nhịp. Thơ Đường luật thường ngắt nhịp theo quy tắc chẵn trước lẻ sau: 4/3 hay 2/2/3: Quả cau nho nhỏ/ miếng trầu hôi – Này của Xuân Hương/ mới quệt rồi (Hổ Xuân Hương, Mời trẩu). Thơ lục bát thường ngắt theo nhịp chẵn 2/2/2, 2/4, 4/4: Việt Nam/ đứt nước/ ta ơi – Mênh mông biển lúa/ đâu trời đẹp hơn (Nguyễn Đình Thi, Bài thơ Hắc Hải). Trong thơ song thất lục bát, hai dòng bảy tiếng thường ngắt nhịp 3/4, còn dòng sáu và dòng tám lại tuân theo cách ngắt nhịp thông thường của thơ lục bát: Thuở trời đất/ nổi cơn gió bụi – Khách má hồng/ nhiều nỗi truân chuyên – Xanh kia/ thăm thẳm/ từng trên – Vì ai gây dựng/ cho nên nỗi này? (Chinh phụ ngâm khúc, bản dịch được cho là của Đoàn Thị Điểm).

II. Tri thức tiếng Việt

1. Ngữ cảnh

Ngữ cảnh là bối cảnh ngôn ngữ trong đó một đơn vị ngôn ngữ được sử dụng. Đó có thể là bối cảnh trong VB, gồm những đơn vị ngôn ngữ (từ, cụm từ, cầu) đứng trước và sau một đơn vị ngôn ngữ (còn gọi là văn cảnh). Trong giao tiếp, người viết (nói) không dùng những từ, cụm từ riêng lẻ, rời rạc mà thường kết hợp các từ, cụm từ theo những quy tắc ngôn ngữ để tạo thành những phát ngôn có nghĩa. Chính vì thế, để hiểu được nghĩa của một từ, cụm từ, ta phải đặt từ, cụm từ đó trong ngữ cảnh, phải căn cứ vào các từ. cụm từ đứng trước và sau nó. Chẳng hạn, chỉ đặt trong câu tục ngữ Tốt gỗ hơn tốt nước sơn, từ gỗ và từ nước sơn mới có nghĩa chỉ tâm hồn (bên trong) và hình thức (bên ngoài). Nếu đưa hai từ đó ra ngoài câu tục ngữ thì chúng không còn nghĩa như vậy.

Ngoài ra, ngữ cảnh còn là bối cảnh ngoài VB, gồm người nói, người nghe, địa điểm, thời gian,… mà ở đó một sản phẩm ngôn ngữ (VB) được tạo ra. Để có thể hiểu được sản phẩm ngôn ngữ một cách thấu đáo, chúng ta phải căn cứ vào ngữ cảnh tạo ra nó. Chẳng hạn, có hiểu được hoàn cảnh ra đời của bài thơ Mùa xuân nho nhỏ (vào tháng 11/1980, lúc Thanh Hải đang nằm trên giường bệnh và không bao lâu sau, nhà thơ qua đời), ta mới hiểu sâu sắc hơn ước nguyện được dâng hiến, được đóng góp cho đất nước, cho cuộc đời mà tác giả thể hiện trong bài thơ.

III. Nội dung bài học

Giai điệu đất nước mở ra cho chúng ta thật nhiều cung bậc cảm xúc về tình yêu non sông đất nước, con người Việt Nam và niềm tự hào thiêng liêng về Tổ quốc thân yêu. Giai điệu ấy ngân lên từng khúc ca tươi đẹp: đó là vẻ đẹp của mùa xuân thiên nhiên và mùa xuân đất nước cũng như lẽ sống cao đẹp của một con người chân chính trong Mùa xuân nho nhỏ (Thanh Hải), là tình yêu quê hương, đất nước, nỗi nhớ da diết của nhà thơ khi phải xa quê hương yêu dấu của mình trong Gò me (Hoàng Tố Nguyên), sự đồng cảm của nhà phê bình Vũ Quần Phương với những tình cảm, cảm xúc về quê hương trong bài thơ “Đường núi” của nhà thơ Nguyễn Đình Thi… Cũng trong chủ đề này, chúng ta được tìm hiểu và thực hành về ngữ cảnh, nghĩa của từ ngữ trong ngữ cảnh, nghĩa của từ ngữ, dấu câu, biện pháp tu từ. Rèn luyện kĩ năng viết, nói nghe qua các phần thực hành Viết bài văn biểu cảm về con người hoặc sự việc và Trình bày ý kiến về những hoạt động thiện nguyện vì cộng đồng.

Chủ đề bài học “Giai điệu đất nước” gồm các nội dung cơ bản:

1. Đọc:

* Đọc – hiểu các văn bản:

– VB1: Mùa xuân nho nhỏ (Thanh Hải).

– VB2: Gò Me (trích, Hoàng Tố Nguyên).

– VB3: Bài thơ “Đường núi” của Nguyễn Đình Thi (Vũ Quần Phương).

– VB thực hành đọc: Chiều biên giới (Lò Ngân Sủn).

*Thực hành tiếng Việt: Ngữ cảnh và nghĩa của từ ngữ trong ngữ cảnh, nghĩa của từ ngữ, dấu câu, biện pháp tu từ.

2. Viết: Viết bài văn biểu cảm về con người hoặc sự việc.

3. Nói và nghe: Trình bày ý kiến về những hoạt động thiện nguyện vì cộng đồng.

4. Củng cố, mở rộng bài 4.

5/5 (1 bình chọn)