Soạn văn 7 – Bài 4: Quà tặng của thiên nhiên

Thiên nhiên tựa người mẹ hiền ban tặng cho con người những thức quà quý giá. Mặt trời cho ta sự sống, cho ta ánh sáng tinh khôi, cơn mưa cho ta hạt mát lành, cây xanh mang đến hoa trái, cho ta khí ô-xi, đất trời bốn mùa ban tặng mỗi cảnh sắc với nhiều thức quà khác nhau… Trong chủ đề bốn Quà tặng của thiên nhiên, sách Ngữ văn 7 Chân trời sáng tạo, chúng ta cùng thưởng thức những món quà đến từ thiên nhiên. HVCTP cùng bạn tìm hiểu nhé!

quà tặng của thiên nhiên

I. Tri thức Ngữ văn

1. Tản văn và tùy bút

Tản văn là loại văn xuôi ngắn gọn, hàm súc có cách thể hiện đa dạng (trữ tình, tự sự, nghị luận, miêu tả,…), nhưng nhìn chung đều mang tính chất chấm phá, bộc lộ trực tiếp suy nghĩ, cảm xúc của người viết qua các hiện tượng đời sống thường nhật, giàu ý nghĩa xã hội.

Tùy bút là một thể trong ký, dùng để ghi chép, miêu tả những hình ảnh, sự việc mà người viết quan sát, chứng kiến; đồng thời chú trọng thể hiện cảm xúc, tình cảm, suy nghĩ của tác giả trước các hiện tượng và vấn đề của đời sống.

Chất trữ tình trong tản văn, tùy bút là yếu tố được tạo từ vẻ đẹp của cảm xúc, suy nghĩ, vẻ đẹp của thiên nhiên tạo vật để tạo nên rung động thẩm mỹ cho người đọc.

Cái tôi trong tùy bút, tản văn là yếu tố thể hiện cảm xúc, suy nghĩ riêng của tác giả qua văn bản. Thông thường, có thể nhận biết cái tôi ấy qua các từ nhân xưng ngôi thứ nhất.

Ngôn ngữ tản văn, tùy bút thường tinh tế, sống động mang hơi thở đời sống, giàu hình ảnh và chất trữ tình.

2. Mạch lạc trong văn bản: đặc điểm và chức năng

Văn bản cần phải mạch lạc. Một văn bản mạch lạc có các đặc điểm sau:

– Các phần, các đoạn, các câu trong văn bản đều cùng nói về một chủ đề.

Các phần, các đoạn, các câu trong văn bản được sắp xếp theo một trình tự hợp lí. Sự tiếp nối này có thể được thực hiện dựa trên mối liên hệ về thời gian, không gian, tâm lý (nhớ lại), ý nghĩa (tương đồng, tương phản).

Sự mạch lạc làm cho chủ đề trong văn bản liền mạch và gợi được hứng thú cho người đọc/ người nghe.

II. Tri thức tiếng Việt

1. Ngôn ngữ của các vùng miền

Tiếng Việt rất đa dạng với những sắc thái độc đáo ở mỗi vùng miền.

Dựa vào đặc điểm cách phát âm, chúng ta có thể nhận ra giọng miền Bắc, giọng miền Nam, giọng miền Trung. Chẳng hạn, cách phát âm của một số địa phương miền Nam và miền Trung thường không phân biệt hai thanh điệu “hỏi” và “ngã” giống như miễn Bắc.

Sự khác biệt về ngôn ngữ giữa các vùng miền không chỉ thể hiện ở ngữ âm mà còn thể hiện ở mặt từ vựng. Chẳng hạn, cùng là một vật dụng dùng để ăn cơm những miền Bắc gọi là “bát”, miền Nam gọi là “chén”. miền Trung gọi là “đọi”,…

Sự khác biệt về ngôn ngữ giữa các vùng miền góp phần làm cho tiếng Việt thêm phong phú. Trân trọng sự khác biệt về ngôn ngữ cũng chính là trân trọng sự khác biệt về văn hóa giữa các vùng miền.

III. Nội dung bài học

Dòng thời gian vút nhanh như con diều no gió, đã bao giờ bạn ngoảnh lại, chầm chậm một chút để tận hưởng những gì cuộc sống đang trải qua, để ngắm nhìn thiên nhiên vạn vật đang từng ngày bên ta, mang đến cho ta từng món quà quý giá? Thiên nhiên như người bạn, cũng như người mẹ luôn ôm ấp, vuốt ve ta bằng cả tình yêu thương vô vàn, bằng những thức quà ngọt lành đầy ý nghĩa. Trong chủ đề Quà tặng của thiên nhiên, chương trình Ngữ văn 7, chân trời sáng tạo, chúng ta cùng đắm mình trong những trang tản văn, tùy bút viết về món quà quý giá từ thiên nhiên: Cốm Vòng của Vũ Bằng, Mùa thu về Trùng Khánh nghe hạt dẻ hát của Y Phương, Thu sang (Đỗ Trọng Khơi), Mùa phơi sân trước (Nguyễn Ngọc Tư). Cũng trong bài học này, chúng ta được tìm hiểu về mạch lạc trong văn bản, từ ngữ địa phương. Phần thực hành Viết các em luyện tập viết bài văn biểu cảm về con người, sự việc. Phần Nói và nghe chúng ta cùng thực hành tóm tắt ý chính do người khác trình bày.

Chủ đề “Quà tặng của thiên nhiên” gồm những nội dung cơ bản:

1. Đọc:

* Đọc – hiểu các văn bản:

– Văn bản 1: Cốm vòng (Vũ Bằng).

– Văn bản 2: Mùa thu về Trùng Khánh nghe hạt dẻ hát (Y Phương).

– Văn bản Đọc kết nối chủ điểm: Thu sang (Đỗ Trọng Khơi).

– Văn bản Đọc mở rộng theo thể loại: Mùa phơi sân trước (Nguyễn Ngọc Tư).

* Thực hành tiếng Việt: Từ ngữ địa phương.

2. Viết: Viết bài văn biểu cảm về con người, sự việc.

3. Nói và nghe: Tóm tắt ý chính do người khác trình bày.

4. Ôn tập bài 4.

5/5 (1 bình chọn)